Nhắc đến tiếng hát Hương Lan là nhắc đến một dòng sông dạt dào sương khói của miền Tây Nam Bộ. Giữa bức tranh âm nhạc trải dài bao thập kỷ, tiếng hát ấy không mang vẻ sắc lạnh của đêm thâu, không mang cái lộng lẫy kiêu kỳ của chốn phồn hoa đô hội. Giọng hát bà thong dong tựa một buổi chiều nước lớn, chở đầy phù sa bồi đắp cho những tâm hồn đã mỏi mệt vì sương gió. Khi những nhịp phách đầu tiên buông lơi, âm sắc ngọt ngào ấy cứ thế len lỏi vào từng ngóc ngách của trí nhớ, gọi dậy cả một vùng trời quê hương bình yên và mộc mạc. Âm nhạc của bà là sự hiện diện của một cõi đi về, nơi những con người dẫu trải qua bao nhiêu giông bão cuộc đời vẫn luôn khao khát được ngả lưng trên chiếc võng tre trước hiên nhà hiu hiu gió thổi.

Để hiểu được sự mượt mà đến độ chín muồi trong giọng hát Hương Lan, ta phải ngược dòng thời gian tìm về gốc rễ của nghệ thuật đờn ca tài tử và sân khấu cải lương. Sinh ra trong một gia đình mang nặng nghiệp cầm ca, là ái nữ của nghệ sĩ tài danh Hữu Phước, Hương Lan như một chồi non được ươm mầm trên mảnh đất phù sa màu mỡ của cổ nhạc. Tiếng hát của bà không chỉ đơn thuần là sự rèn giũa kỹ thuật thanh nhạc, mà là sự chắt lọc tinh hoa từ những câu vọng cổ buồn miên man, từ những nhịp xang xê cống sự đã ăn sâu vào nếp nghĩ và nếp sống của người dân miệt vườn.
Chính cái nôi nghệ thuật ấy đã trao cho bà một nhịp điệu ca hát rất đỗi thong dong. Bà hát tân nhạc mà như đang thủ thỉ kể chuyện bằng âm điệu dân ca. Cách bà luyến láy, nhả chữ hay những đoạn ngân dài mượt mà ở cuối câu đều mang bóng dáng của nghệ thuật diễn xướng truyền thống. Đó là một sự chuyển giao kỳ diệu, biến những giai điệu tân nhạc trở nên đằm thắm, bám rễ thật sâu vào lòng đại chúng. Làn hơi của bà vô cùng sung mãn nhưng lại được điều tiết bằng một triết lý tĩnh tại. Bà không bao giờ gân guốc phô diễn mà luôn giữ được sự chừng mực, tinh tế như dòng nước êm đềm len lỏi qua từng rặng bần ven sông.
Nghe Hương Lan hát, ta như được chạm tay vào những nếp áo bà ba mộc mạc, được hít căng lồng ngực mùi rạ rơm ngai ngái sau những chiều mưa giông mùa hạ. Giọng hát ấy sở hữu một âm sắc thổ pha kim tuyệt đẹp, vừa có độ trầm ấm để chuyên chở nỗi buồn, vừa có độ vang sáng để những khúc ca dạt dào tình tự không bị rơi vào u ám. Bà phát âm tiếng Việt, đặc biệt là phương ngữ Nam Bộ, chuẩn xác và đắt giá đến từng thanh điệu.
Không ai có thể quên được cách bà nâng niu từng lời ca trong nhạc phẩm Chiếc áo bà ba của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Lời bài hát nguyên thủy hiện lên qua chất giọng ngọt ngào ấy như một thước phim quay chậm về vẻ đẹp của người con gái sông nước:
Chiếc áo bà ba trên dòng sông thăm thẳm
Thấp thoáng con xuồng bé nhỏ lướt mong manh
Nón lá đội nghiêng tóc dài con nước đổ
Hậu Giang ơi em vẫn đẹp ngàn đời
Bà hát chữ thăm thẳm sâu hút như chính độ lùi của thời gian, rồi lướt nhẹ qua chữ mong manh với một làn hơi êm như nhung. Vẻ đẹp của người con gái miền Tây qua tiếng hát Hương Lan không hề phô trương. Nó e ấp, dịu dàng, tựa như bông điên điển vàng ươm nở rộ bên triền đê vắng. Nỗi buồn nếu có cũng chỉ là một chút bâng khuâng lãng đãng của những buổi chiều mong ngóng người thương, tuyệt nhiên không mang sự gào thét đớn đau tột cùng.
Và làm sao có thể bỏ qua mảng ca khúc mang đậm tính tự sự của nhạc sĩ Bắc Sơn khi nhắc về sự nghiệp lẫy lừng của Hương Lan. Sự kết hợp giữa những ý thơ chân chất và giọng hát đầy trắc ẩn này đã khai sinh ra một không gian nghệ thuật dung dị mà sâu thẳm. Trong bài Em đi trên cỏ non, người nghe dường như tước bỏ mọi lớp áo phòng vệ của đời thường, để trở về với hình hài của những đứa trẻ dại khờ, gục đầu vào lòng mẹ thiên nhiên. Lời ca cất lên như đưa ta về lại những ngày thơ ấu thanh bình nhất:
Em đi trên cỏ non mọc ôm đôi bờ đường đê
Em che nghiêng nón lá chân rụt rè qua nhịp cầu tre
Quê hương em ở ngoại thành xóm nhà tranh
Em qua mấy sông vượt mấy đèo
Cách bà hát cụm từ chân rụt rè chứa đựng tất cả sự bẽn lẽn, mộc mạc của một người con xa quê nay bỡ ngỡ đặt chân về lại lối mòn chốn cũ. Sự tinh tế trong cách bà nhả chữ nằm ở chỗ thanh âm luôn giữ được độ xốp nhẹ, tựa như sương mai đọng trên những ngọn cỏ ven đường. Bà ru người ta vào một giấc mơ đồng quê bất tận, nơi những toan tính lợi danh vắng bóng, nhường chỗ cho tình yêu thương thuần khiết nảy mầm. Âm nhạc của bà lúc này mang tính chữa lành, đưa con người ta rũ bỏ hết muộn phiền của vội vã đời thường để chạm vào sự tĩnh tại nguyên thủy.
Hơn thế nữa, Hương Lan còn là biểu tượng rực rỡ nhất của dòng nhạc mang âm hưởng dân ca Nam Bộ. Khi bà cất lên những giai điệu mang âm giai ngũ cung, toàn bộ không gian xung quanh dường như tĩnh lặng lại. Bà biến tiếng hát của mình thành tiếng lòng của đất mẹ bao dung, vỗ về những đứa con xa xứ. Hãy lắng lòng để nghe bà kể về những kiếp thương hồ trôi nổi trong Điệu buồn phương Nam của nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển. Lời ca mang theo âm hưởng của gió, của nước, của những đêm trăng khuya khoắt:
Về phương Nam lắng nghe cung đàn
Thổn thức vọng dưới trăng mơ màng
Rồi theo sông Cửu Long nhớ nhung dâng tràn
Chợt thương con sáo bay xa bầy
Sương khói buồn để lại lòng ai
Cách bà luyến láy ở cụm từ sáo bay xa bầy thật sự đã chạm đến cõi lòng sâu thẳm nhất của người nghe. Bà mượn hình ảnh con sáo để nói thay nỗi niềm mồ côi, sự lạc loài của những mảnh đời tha hương cầu thực. Nhưng cái giỏi của Hương Lan là bà luôn biết điểm dừng. Cảm xúc được đẩy lên rồi từ từ buông lơi, để lại những dư âm tĩnh tại, dọn đường cho một sự chấp nhận bình thản trước những lẽ vô thường. Bà biến tấu những nốt trầm nốt bổng bằng một trái tim thấu suốt, như người chèo đò thong dong lướt qua những khúc quanh của dòng sông định mệnh.
Có một sự thiền tính rất lạ trong cách hát của Hương Lan. Bà đứng trên sân khấu, nhắm mắt và để âm nhạc tự thân tuôn chảy qua thanh quản của mình. Làn hơi của bà dài và đều đặn tựa như nhịp thở của một người đang thực hành quán niệm. Bà làm chủ mọi sắc thái âm thanh, biết khi nào cần lơi nhịp để tạo khoảng không gian cho người nghe tự lấp đầy cảm xúc. Sự nhịp nhàng trong cách xử lý ca từ cho thấy một sự thấu hiểu sâu sắc về văn hóa, về triết lý sống chậm của con người phương Nam.

Sự chừng mực ấy chính là chìa khóa giúp tiếng hát Hương Lan sống mãi với thời gian. Bà hát như hơi thở, tự nhiên như cây cỏ đâm chồi nảy lộc lúc xuân sang, như nước trôi từ nguồn ra biển lớn. Người ta tìm đến bà khi cần một chốn nương thân yên ả, khi mệt nhoài trước những đổi thay chóng mặt của cuộc đời, chỉ để được nghe lại thanh âm của đất đai, sông nước quê nhà. Nơi ấy có vòng tay mẹ chở che, có tiếng hò ơ ru giấc ngủ trưa nồng và có sự chân thật tuyệt đối.
Đối với những kiều bào phương xa hay những người con rời quê lên phố thị, tiếng hát Hương Lan chính là sợi dây vô hình níu giữ họ lại với gốc gác nguồn cội. Giữa những tòa nhà chọc trời vô cảm, chỉ cần một giai điệu quen thuộc cất lên qua chất giọng ngọt như mía lùi ấy, mọi khoảng cách địa lý dường như bị xóa nhòa. Tiếng hát ấy nhắc nhớ người ta về cội nguồn, để dẫu có đi xa vạn dặm vẫn biết đường mà quay về nương tựa vào bóng mát của di sản văn hóa.
Khép lại những trang viết về nữ danh ca Hương Lan, ta bỗng thấy lòng mình nhẹ bẫng. Khi những bộn bề ngoài kia tạm thời khép lại, ta chỉ cần pha một ấm trà, thả mình trên chiếc ghế quen thuộc và để âm nhạc của bà dẫn lối. Để thấy dòng sông Hậu Giang vẫn cuộn chảy hiền hòa, thấy những vạt áo bà ba vẫn tung bay trong gió và thấy tâm hồn mình vẫn còn nguyên vẹn những rung động tinh khôi nhất. Tiếng hát ấy mãi mãi là một viên ngọc quý tỏa ánh sáng dịu dàng, soi đường cho những ai trót yêu nếp sống chậm rãi và tình người đôn hậu của phương Nam dĩ vãng.
Andy On The Go
Leave a comment