Andy On The Go

Compassionately Moving

By Andy On The Go Khoảng sáu giờ, nắng chỉ vừa quệt nhẹ lên mặt kênh, mùi nước sông lẫn với mùi rau thơm, mùi cá tươi, mùi khói bếp từ những gánh bún riêu, hủ tiếu lề đường. Tiếng rao khàn khàn của cô bán xôi, tiếng dao thớt lóc cóc của chú hàng…

By

Chợ Thị Nghè: mua một dòng ký ức

By Andy On The Go

Khoảng sáu giờ, nắng chỉ vừa quệt nhẹ lên mặt kênh, mùi nước sông lẫn với mùi rau thơm, mùi cá tươi, mùi khói bếp từ những gánh bún riêu, hủ tiếu lề đường. Tiếng rao khàn khàn của cô bán xôi, tiếng dao thớt lóc cóc của chú hàng thịt, tiếng cười nói trả giá rộn lên thành một bản nhạc cũ mà ngày nào cũng mới.

“Chợ này nuôi bao nhiêu cái bụng Sài Gòn đó con”, cô bán rau lần đầu gặp tôi vậy mà nói như quen lâu lắm. Tay cô thoăn thoắt bẻ bó rau muống, nhặt bỏ lá úa, miệng không ngừng kể chuyện con cái, chuyện giá cả lên xuống.

Ở Thị Nghè, chỉ cần đứng lại lâu hơn ba phút, bạn sẽ mặc nhiên trở thành người quen của ai đó. Có lẽ vì thế, mỗi lần đứng giữa chợ Thị Nghè, tôi lại nghe quá khứ của mình bước về. Hai mươi năm trước, cũng là một khu chợ như thế, chỉ là nghèo hơn, ẩm thấp hơn, gắt mùi nước cống hơn. Đó là khu ổ chuột đầu tiên tôi ở, khi mới lên Sài Gòn học đại học.

Phòng trọ ngày đó nhỏ tới mức duỗi chân mạnh là đá trúng tường. Trần thấp, quạt quay lạch cạch, mùa mưa là phải kê dép lên ghế vì nước tạt từ hành lang vào. Bước ra khỏi cửa vài chục bước là tới chợ. Mùi thịt sống, mùi cá, mùi nước mắm, mùi rau hăng hăng trộn với mùi khói xe và mùi kênh đen. Đó là lớp không khí đầu tiên ôm lấy một đứa tỉnh lẻ vừa chân ướt chân ráo lên Sài Gòn như tôi.

Khu đó là dạng ổ chuột đúng nghĩa. Vách tôn, mái tôn, mấy con hẻm nhỏ chỉ đủ hai chiếc xe máy né nhau, nền xi măng bong tróc, mưa xuống nước đọng lấp xấp. Buổi chiều, mấy đứa nhỏ chạy chân đất, tay cầm bịch đá đỏ, miệng cười toe. Bà nội hay mẹ chúng lom khom bưng thau đồ ra giặt ở vòi nước công cộng. Nhà ai khá hơn một chút thì có cái máy giặt cũ để ở góc nhà, lúc chạy ầm ầm như tàu hỏa.

Nhưng chỉ cần đi bộ thêm mười phút là sang một thế giới khác. Đường lớn hơn, nhà cao hơn, cửa kính sáng choang, xe hơi đậu ngay ngắn bên lề. Buổi tối, tôi đi bộ qua đó để ra tiệm net gởi mail về nhà. Mỗi lần ngang qua những ngôi nhà đóng cổng im lìm, bên trong là ánh đèn vàng dịu và tiếng tivi vọng ra, tôi có cảm giác như đang đi dọc theo vách kính, nhìn đời sống của người khác mà biết chắc mình chưa thuộc về.

Một bên là mái tôn dột, một bên là mái ngói đỏ, mà chỉ cách nhau vài con hẻm. Ranh giới giàu nghèo ngày đó với tôi sắc như một đường kẻ.

Sáng sáng, chợ đánh thức khu trọ trước cả chuông báo thức. Cô bán hủ tiếu, chú bán bún bò, tiếng rao của chị bán xôi, tiếng chửi yêu của mấy cô bán cá khi có ai trả giá quá tay. Tôi thuộc giờ giấc của từng người. Sáu giờ kém mười là tiếng xe đẩy của cô bún riêu. Sáu giờ rưỡi là chú bán thịt ngoài đầu hẻm bắt đầu rửa thớt. Bảy giờ là mấy anh bốc vác ở chợ ngồi uống cà phê vỉa hè, nói chuyện lớn đủ cho cả dãy trọ nghe.

Nhờ chợ, tôi lần đầu cảm được hết những sắc thái rất thật của đời sống. Có chị bán rau người nhỏ xíu, chồng bệnh, con còn nhỏ. Mỗi lần tôi ghé mua ít rau muống, chị hay nói vui cho thêm vài cọng, bữa nay em ăn nhiều rau cho đẹp da. Miệng cười nhưng mắt thâm quầng vì thức sớm. Có bà bán cá nổi tiếng miệng hay nặng lời mà ai cũng thương, vì cuối chợ hay gom mớ cá xấu bán rẻ cho sinh viên và công nhân. Có anh chạy xe ôm chuyên chở hàng cho mấy sạp, bữa nào trúng mối chở đi xa là chiều về đã say xỉn ở đầu hẻm, vừa cười vừa khóc với bạn nhậu.

Rồi cũng có những người tôi chưa bao giờ dám nói chuyện. Như cô chủ tiệm vàng ở mặt tiền chợ, sáng nào đi làm cũng có xe hơi đưa đón. Mái tóc uốn kỹ, mùi nước hoa thơm át cả mùi cá mùi thịt chung quanh. Hoặc cậu con trai nhà phía ngoài, chiều nào cũng mặc đồ thể thao, đeo balo đẹp, bước qua khu ổ chuột rất nhanh để lên taxi đi học thêm tiếng Anh.

Ngày đó, tôi cứ tưởng giàu nghèo là hai bờ rõ rệt. Nhưng rồi có một hôm trời mưa lớn, nước kênh tràn vào ngập tới đầu gối. Người trong khu trọ lùa nhau kê đồ, dọn dẹp. Cậu con trai nhà khá giả phía ngoài mang vô mấy đôi ủng cũ, mấy cái bao to, đứng phụ mấy chú công nhân chặn nước. Cô chủ tiệm vàng gửi vào một thùng mì, dặn cô chủ nhà trọ chia cho tụi nhỏ ăn khuya kẻo đói. Ngồi bó gối trong phòng, nghe tiếng cười chen tiếng nước chảy, tôi thấy thành phố này bỗng dưng bớt dữ với mình. Ranh giới giàu nghèo bỗng mềm đi một chút.

Hai mươi năm sau, tôi đứng ở chợ Thị Nghè, nhận ra mình vẫn đang ở giữa một “chợ trong phố” như thế, chỉ là đời sống đã đổi màu. Bên ngoài, phố xá đầy quán cà phê, siêu thị, cửa hàng tiện lợi sáng đèn 24/7. Bên trong, dưới mái tôn và những tấm bạt bạc màu, nhịp sống kiểu xưa vẫn bền bỉ. Người ta mua theo mối, gọi đúng tên nhau, gửi chiếc xe, cái nón, đôi khi gửi cả đứa con cho cô bán hàng trông giùm vài phút.

Tôi vẫn thích lối đi cạnh mấy sạp hoa. Hoa cúc, hoa hồng, vài bó huệ trắng cắm trong xô nhựa xanh đỏ. Giữa mùi cá mặn và mùi thịt sống, hương hoa lẫn vào mùi rau quế, tía tô, tạo thành thứ mùi rất riêng của chợ. Không thơm kiểu tinh dầu spa, nhưng là mùi của sự sống, của bữa cơm nhà đang được chuẩn bị đâu đó trong những con hẻm nhỏ. Mùi đó lúc nào cũng đánh thức trong tôi ký ức về khu chợ nghèo năm nào.

Đi ngang khu đồ ăn sáng ở Thị Nghè, nghe ai đó nói với nhau “Ăn tô bún rồi tính gì thì tính”, tôi thấy cảnh cũ hiện về. Ngày xưa, không ít lần tôi đã ngồi ở một cái bàn inox chật chội như thế, trước mặt là tô bún bò bốc khói và ly cà phê sữa đá, trong đầu là phép tính tiền trọ, tiền học, tiền ăn. Ở chợ, nhiều quyết định lớn nhỏ trong đời được bàn xong rất giản dị như vậy.

Trưa lên, chợ Thị Nghè bớt ồn ào, nắng hắt xiên qua những kẽ mái, vẽ lên nền gạch những vệt sáng lốm đốm. Mấy cô chú bán hàng ngả lưng trên ghế nhựa, chiếc quạt máy quay lạch cạch. Cảnh đó làm tôi nhớ tới dãy trọ ngày xưa, sau bữa cơm trưa là cả khu im ắng, chỉ còn tiếng tivi vọng ra từ phòng chủ nhà. Thị Nghè lúc này giống như một căn nhà lớn sau bữa cơm, im mà ấm.

Chiều xuống, đèn neon bật lên từng dãy, chợ lại hóa thành một phố ăn vặt náo nhiệt. Gỏi cuốn, bánh tráng nướng, bắp xào, nước mía. Những chiếc xe máy dựng san sát, mùi hành phi, mỡ hành, nước mắm chua ngọt quyện vào dòng người tan ca ghé lại mua vội bữa tối. Bỗng dưng tôi hiểu cảm giác ngày xưa của mình, khi đứng giữa khu ổ chuột mà vẫn thấy mình may mắn. Ít nhất, mình đang sống ở nơi có mùi thức ăn ấm, có tiếng người cười, có một cái chợ để mà thuộc về.

Giữa thành phố đang thay da đổi thịt, chợ Thị Nghè là hiện tại, còn khu chợ ổ chuột năm nào là ký ức vẫn còn sống. Một bên cho tôi thấy mình đã đi được bao xa. Bên kia nhắc tôi mình đã đi từ đâu. Cả hai cùng thì thầm một điều giống nhau: ở Sài Gòn, người ta không chỉ mua một bó rau, một ký thịt, mà mua thêm cảm giác được thuộc về. Thuộc về một góc phố có người nhớ mặt mình, gọi đúng tên mình, hỏi rất tự nhiên “bữa nay trông con khỏe không con”.

Thành phố đã khác, tôi cũng khác. Nhưng mỗi lần đi ngang bảng hiệu “Chợ Thị Nghè”, ngửi mùi chợ trộn mùi kênh, tôi luôn thấy yên lòng. Như đi ngang cửa nhà của chính mình, mang theo cả khu ổ chuột cũ trong tim, mà không còn thấy xấu hổ chút nào.

Sài Gòn, cuối tháng 11.2025

Leave a comment