Có những đêm, khi vạn vật trôi vào im lặng, ta ngồi lại với một bài thơ mà ngỡ như đang đối diện với cả một dòng sông ký ức trầm tích. Nhớ của Tố Như (Lê Thúc Dạ), qua những nốt nhạc thăng trầm của Châu Kỳ, không còn là những câu chữ nằm yên trên mặt giấy. Nó đã hóa thành tiếng thở dài của ngàn năm, một thứ tình sầu vương vấn qua bao cuộc bể dâu, để rồi cuối cùng đọng lại thành một giọt sương tinh khôi trên mi mắt của người đang yêu ở hiện tại.

Lật giở từng câu thơ, ta như bước vào một ngôi đền cổ kính, nơi những bức phù điêu điển tích hiện lên vừa lộng lẫy vừa u buồn. Nỗi nhớ trong bài thơ này có một biên độ rộng lớn đến kinh ngạc, nó dạt dào ra khơi cùng cánh thuyền cô độc, nó bâng khuâng theo dáng ngồi của người chiêm nữ, và thảng thốt hỏi đại ngàn rằng Ngũ Hành Sơn có nhớ Tây Du.
Tác giả không đi tìm những cảm xúc hời hợt, mà mượn những bi kịch tình yêu lớn lao nhất của lịch sử để làm cái cớ cho niềm riêng. Đó là cái ngoảnh đầu muộn màng đầy huyết lệ của Trọng Thủy dành cho Mỵ Châu, là nỗi sầu vạn cổ ngăn cách đôi bờ sông Ngân của Ngưu Lang Chức Nữ, hay bước chân viễn xứ của Phạm Lãi ngóng về bóng dáng Tây Thi nơi cuối bãi đầu ghềnh. Mỗi cái tên vang lên là một vết xước của ánh sáng, vừa đau đớn vừa lấp lánh một lòng son sắt.
Nhưng nếu chỉ có những điển tích xa xôi, bài thơ có lẽ đã rơi vào sự lạnh lùng của sử sách. Sự tinh tế và trắc ẩn của người viết nằm ở những khoảng lặng đầy tính quan sát, nơi con người đối diện với những góc khuất ngổn ngang của tâm tưởng.
Cái giật mình khi “Lưu Bình trở giấc nhớ Châu Long” hay nỗi phân vân rất đời, rất người trong câu “Kim Trọng thương Kiều nhớ Thúy Vân” chính là một nét cọ tài hoa. Chữ thương dành cho người tri kỷ lỡ làng, chữ nhớ dành cho người bạn đời hiện tại, cái tình ấy sao mà trọn vẹn, xót xa và thấu hiểu đến thế. Rồi khi không gian co cụm lại, nhường chỗ cho bóng tối tịch mịch của phòng khuê, hình ảnh đêm cũ xa xưa đèn nhớ bóng hiện lên như một đỉnh cao của sự cô đơn. Đèn và bóng, hai thực thể quấn quýt bên nhau nhưng chẳng bao giờ có thể hòa làm một, cứ thế mà ngóng trông trong sự im lặng tận cùng.

Từ những mối tình chương cú, mạch cảm xúc dịch chuyển rất ngọt ngào sang niềm đau đáu của non sông. Nỗi nhớ lúc này mang tầm vóc của căn tính và cội nguồn, khi lòng người hướng về Nguyễn Huệ, Trưng Vương, về con Hồng cháu Lạc nhớ non sông gấm vóc. Để rồi, sau khi đã đi qua vạn dặm dâu bể, qua biết bao triều đại sụp đổ và những huyền thoại ngàn năm, bài thơ bỗng hạ cánh một cách êm ái vô cùng ở những câu cuối. Mỵ Nương nhớ sáo Trương Chi lắm, trăng nhớ hoàng hôn và anh nhớ em.
Tất cả những vĩ đại của lịch sử, những biến động của vũ trụ bỗng chốc thu bé lại, lùi làm nền cho một tiếng lòng giản đơn, mộc mạc nhất. Hành động đặt nỗi nhớ của anh dành cho em ở chương cuối, ngay sau nhịp điệu tự nhiên của đất trời, đã biến tình yêu đôi lứa thành một quy luật tất yếu và vĩnh cửu. Vương triều có thể phai tàn, thời gian có thể xóa nhòa những thành quách cổ kính, nhưng tiếng lòng của những kẻ yêu nhau thì luôn nguyên sơ và ở lại với cuộc đời.
Điệp từ nhớ vang lên đều đặn suốt bài thơ như một tiếng chuông chùa trong đêm vắng, hay như nhịp đập thổn thức của một trái tim không ngủ. Lời thơ giàu nhạc tính, dìu dắt ta đi qua những thăng trầm của lịch sử để rồi trả ta về với chính mình, với một khoảng trống dịu dàng trong tâm tưởng. Để khi khép lại những câu chữ ấy, ta chợt nhận ra, suy cho cùng, mọi con đường trên thế gian này đều dẫn về một bến đợi duy nhất, đó là bến bờ của những người thương.
“…Bạch mã lên đường nhớ trạng nguyên,
Chế Bồng Nga nhớ gót chinh nguyên,
Mỵ Nương nhớ sáo Trương Chi lắm,
Trăng nhớ hoàng hôn … anh nhớ em…”
ADoTG















































Leave a comment